Home » Hỗ trợ sức khỏe cộng đồng » Không dùng thuốc » Khí công Y đạo » Khí công Thuận Nghĩa thập chỉ chân truyền

Khí công Thuận Nghĩa thập chỉ chân truyền

Khí công Thuận Nghĩa thập chỉ chân truyền


Thập Chỉ Chân Truyền, lấy khái niệm Hư và Thực trong Bát Cương làm Soái Lý (lý luận thống soái). Biết Hư chỗ nào, Thực chỗ nào thì dụng phép Bổ và Tả. Bổ Tả là hai thủ pháp trong Bát Pháp.


Phần 1 THẬP CHỈ CHÂN TRUYỀN
NGUYÊN- LẠC, DU- MỘ, LỤC HỘI, THẬP LỤC KHÍCH và HƯ-THỰC, BỔ- TẢ 
 
Chưa kể đến học thuyết Kinh Dịch và Ngủ Hành Âm Dương bao la vô cùng tận. Chưa kể đến ngàn vạn thứ thảo dược và trùng trùng các phương toa cùng với hàng ngàn huyệt vị trên mười hai đường kinh chính và các kỳ kinh bát mạch. Chỉ riêng trong thuật Châm Cứu, một mảng nhỏ trong các Thủ Pháp Y Thuật Đông Phương cũng đủ là một ma trận thiên thung của học thuật rồi.
Ví dụ,  muốn châm cứu được ít nhất cũng phải biết Bát Mạch Đại Cương, tức là 8 mạch cơ bản nhất trong hàng trăm mạch vị của Phép Bắt Mạch (Tức là các loại mạch vị cơ bản: Phù-Trầm, Trì- Sác, Tiểu- Đại, và Trường- Đoản). Và bắt buộc phải biết Bát Cương, tức là 8 nguyên tắc về bệnh lý (Biểu –Lý, Hàn- Nhiệt, Hư-Thực và Âm- Dương). Chưa đủ, lại còn phải biết Bát Pháp, tức 8 thủ pháp trị bệnh cơ bản (Hãn, Thổ, Hạ, Hoà, Ôn, Thanh, Tiêu, Bổ).
Đưa 8 Mạch Vị lên 8 nguyên tắc bệnh lý, chúng ta đã có 64 Khái Niệm Y Thuật khác nhau. Rồi đưa 64 Khái Niệm Bệnh Lý đó chồng lên 8 Phương pháp trị liệu, chúng ta bắt buộc phải nắm kỹ thêm 512 Khái Niệm Y Thuật nữa. Rồi lại phải bắt buộc chồng chéo lên 12 đường kinh, và các kỳ kinh bát mạch, cùng hàng ngàn huyệt vị, rồi tiếp tục phải cấp số nhân với Thất Tình, Lục Dục những khái niệm về Nội Nhân và Ngoại Nhân gây nên bệnh tật nữa…Các bạn thử làm một phép tính xem sẽ có bao nhiêu Khái Niệm Y Thuật các bạn cần phải tinh thông để cầm được cái kim tấn vào da thịt người bệnh. Chưa kể là những khái niệm Y Thuật Đó chỉ dựa trên 2 „chữ cái“ cơ bản để làm ngôn ngữ diễn giải, đó là hai chữ cái Âm(__ __ ) và Dương( ____ ). Vì vậy những khái niệm đó dường như rất mơ hồ và chung chung nếu như không nắm vững được Dịch Lý, âm dương, tứ tượng, bát quái…v..v..
Bởi vậy một người mới bước vào nghề, không biết bắt đầu từ đâu để học, nếu không có Minh Sư chỉ giáo. Một Thầy Thuốc đích thực học đến lúc xuống mồ chưa thấy đủ là vậy.
Cũng bởi vậy tổ huấn của bổn môn, có truyền lại câu „thần chú“ này: “ Ngộ được tận cùng một thứ ắt sẽ thông vận thứ“. (Có nghĩa nôm na là, chỉ cần thấu ngộ đến chỗ cuối cùng ý nghĩa của một khái niệm nào đó thì sẽ thông được vạn thứ, bởi vạn pháp vốn là Một. Mà muốn thấu ngộ một khái niệm không chỉ có suy ngẫm về nguyên lý, lý thuyết mà thôi mà phải trải nghiệm bằng thực tế, bằng cả trực giác kinh nghiệm thực thể và cả kinh nghiệm tiềm thức...)
Chính vì vậy mà tiền nhân có để lại một pho học thuật gọi là Thập Chỉ Chân Truyền, không những chỉ là bí cấp khai tâm cho người mới vào nghề biết cách học từ đâu và học như thế nào, mà còn là tuyệt chiêu vô tiền khoáng hậu trong thuật Đả Thông Kinh Mạch, một phương pháp đơn giản nhưng tối hậu bao hàm trùng trùng khái niệm của Y Lý, mả bất kỳ Thủ Pháp Đông Y nào cũng phải dùng tới, như một phương pháp cơ bản nhất, quan trọng nhất trong việc phòng, chống bệnh tật, bảo vệ sức khoẻ và tính mạng.
Thập Chỉ Chân Truyền, lấy khái niệm Hư và Thực trong Bát Cương làm Soái Lý (lý luận thống soái). Biết Hư chỗ nào, Thực chỗ nào thì dụng phép Bổ và Tả. Bổ Tả là hai thủ pháp trong Bát Pháp. Muốn Bổ như thế nào, Tả như thế nào thì phải biết các huyệt vị chính là hệ thống Nguyên/ Lạc huyệt, Du/ Mộ huyệt, Lục Hội Huyệt, và Thập Lục Khích Huyệt. Nắm vững các khái niệm Hư/Thực rồi dùng các ngón tay điểm vào các Huyệt Vị, bối du huyệt, mộ huyệt, khích huyệt, nguyên huyệt và lạc huyêt để đả thông kinh mạch, điều hòa chân khí là có thể lui được bá bệnh,và có khả năng cải tử hồi sinh, không có bệnh gì mà không chữa khỏi.
Như vậy trong muôn vàn khái niệm của Y Lý bao la, chúng ta chỉ cần tham thấu thật sâu sắc hai khái niệm Hư và Thực và trải nghiệm thật chắc chắn hai thủ pháp Bổ và Tả là coi như đã có thể ung dung tự tại thong dong thõng tay đi vào thế giới mênh mông huyền bí của Y Lý rồi.
Ví dụ, muốn tường tận đến chỗ tận cùng của Hư Thực, ắt phải tìm đến cái lý của Âm Dương Ngũ Hành, của Thất tình, Lục dục, phải hiểu về Phủ Tạng, phải biết trong ngoài, phải biết nóng lạnh, phải am tường chỗ dư chỗ thiếu...Cứ vậy mà từng bước từng bướ không đi đâu mà vội....
...Hôm nay muốn biết Dương Hư là gì, OK, thì xem Dương nó là cái gì trước đã, biết Dương là cái gì, khi nó thiếu, khi nó không có đủ thì gọi là HƯ, là hao....Mà nó thiếu, nó ít, thì xảy ra chuyện gì, nó thiếu ở chỗ này thì chỗ kia có bị làm sao không. Nó thiếu ở chỗ này là do chỗ này không tàng trữ được, hay là là do chỗ khác bế tắc, ùn nạp ở chỗ đó, nên chỗ này mới thiếu. Nó thiếu thì phải làm sao thêm vào cho đủ, thêm trực tiếp vào chỗ thiếu hay là khai thông đưa từ chỗ khác về. Cái thủ pháp thêm vào cho đủ này gọi là phép BỔ đấy....
..Ngày mai lại muốn biết Âm Thực là gì, lại phải cần tra khảo Âm là cái gì, khi biết nó là cái gì thì lại cần phải biết khi nó dư, nó thừa, nó dồn đống lại đó là khái niệm THỰC, và khi nó thực thì xảy ra chuyện gì,...và phải làm sao lấy bớt nó đi, và lấy bớt nó đi bằng cách khu trục, cho ra theo mồ hôi, cho ra theo đường tiểu tiện, đại tiện hay là cho nôn mửa....hay là đưa nó đến những chỗ đang thiếu. Xin thưa đó là các pháp Hãn, Hạ, Tiêu, Thổ....đấy và cũng có thể gọi cái cách làm vơi bớt chỗ đầy ứ đó đi là phép TẢ vậy.
...Và lại, muốn Bổ thì phải Bổ Mẫu, mà muốn Tả thì phải Tả Tử. Vậy thì cái gì gọi là Mẫu, cái gì gọi là Tử...hè hè ...thì lại hôm nay...phải biết cái nào sinh ra cái nào, vì cái sinh ra là Mẹ, cái được sinh ra là Con. Ví dụ như Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim... nên Hỏa là Mẹ của Thổ, Thổ là con của Hỏa. Thổ là con của Hỏa, nhưng nó lại sinh ra Kim, vì vậy Thổ là Mẹ của Kim, Kim là con của Thổ..và đương nhiên theo quan hệ huyết thống, Kim là cháu ngoại của Hỏa (Làm cháu ngoại cho nó chắc ăn, chứ cháu nội khó biết lắm.. khẹc khẹc khẹc..) Bởi vì vậy nên khi Thổ Hư thì phải bổ ở Mẫu của nó là Hỏa, để Mẹ có sức mà nuôi dưỡng con, khi Thổ Thực thì phải đánh vào con của nó là Kim, để con nó yếu đi bắt buộc Mẹ phải dồn sức qua nuôi con, nên Thổ phải vơi đi...đó là cái lý của Bổ Mẫu và Tả Tử....Vì cái lý này mà bất buộc khi tham thấu về Bổ Tả bắt buộc phải hiểu về cái lý Ngũ Hành ứng với Lục Phủ Ngũ Tạng là vậy..
Lại có thêm thuyết Bổ Tả theo Nguyên Lạc huyệt, nên ngày mai lại tìm xem Nguyên Lạc là gì, nên phải biết thêm đường đi của các kinh mạch, và từ đó sẽ dần dần biết thêm các hệ thống huyệt khác như Du Mộ, Bát Hội, Lục Hội, Tĩnh Vĩnh Du Kinh Hiệp huyệt, Khích huyệt v..v...
Cứ vậy mà từng ngày từng ngày, vừa củng  cố cho việc liễu nghiệm thấu ngộ Hư Thực, Bổ Tả, mà tham thấu thêm được Nguyên/Lạc, Du/Mộ, Lục Hội, Thập Lục Khích...và vân vân và vân vân...
Nói tóm lại một câu cho nó vuông như vầy, trước tiên muốn biết Đông Y nó là cái giề, thì đầu tiên không cần chi nhiều, cớ trải nghiệm cho nó chắc chắn Hư là gì, Thực là gì, Tả là gì, Bổ là gì. Hiểu bốn khái niệm này cho thật sâu và từng ngày từng ngày bổ sung cho nó thật tròn trịa, thật viên ngộ sâu sắc là tự nhiên sẽ thông tuốt tuồn tuột các khái niệm và thủ pháp khác mà thôi.
Một ví dụ nữa để minh họa để cho các bạn vỡ vạc ra chút nữa trong những gì lão phu vừa lý giải.
Ví dụ nhìn vào đồ hình Đồng Hồ Sinh Khí dưới đây.

Theo lý thuyết của vận khí theo vòng Đại Chu Thiên. Ta nói về Tâm Kinh. Đi trước nó là Tỳ Kinh, đi sau nó là Tiểu Trường Kinh.
Ví dụ Tâm Kinh bị Hư, tức là khí Tâm Hỏa bị thiếu hụt. Hư thì phải Bổ, và Bổ như thế nào. Đầu tiên là bổ theo luật bổ Mẫu, tức là bổ vào đường kinh đi trước. Thuật bổ này là điểm vào Khích huyệt  của Tỳ Kinh tức là huyệt Địa Cơ để Khí Huyết từ Tỳ kinh vượng đầy mà tràn qua Tâm Kinh cho đủ. Hoặc là bổ theo luật Tý Ngọ, tức là bổ vào Nguyên Huyệt của Tâm Kinh và tả vào Lạc Huyệt của Đởm Kinh để cho Khí Huyết theo Lạc huyệt của Đởm Kinh chảy tràn tới Nguyên Huyệt của Tâm Kinh. Và đồng thời với những thủ pháp này có thể điểm thêm Tâm Du và Cự Khuyết là là Du/Mộ của Tâm kinh. Và nếu chứng Tâm Hư có kèm đau tức vùng ngực thì điểm thêm Nội Quan là huyệt Lục hội của vùng Ngực.
Ngược lại nếu Tâm Kinh bị Thực, tức khí huyết và tà khí ứ bế ở đây, thì tả huyệt Khích của Tiểu Trường kinh theo luật Tả Tử. Và tả Lạc huyệt của Tâm kinh bổ Nguyên huyệt của Đởm Kinh theo luật Tý Ngọ Lưu Chú.
Tương tự theo nguyên lý này ta ví dụ Khí Huyết không lưu thông do Thận kinh Hư. Thận Hư nên phải bổ Thận. Tức là điểm vào huyệt Khích của đường kinh đi trước, là huyệt Kim Môn của Bàng Quang kinh theo luật Bổ Mẫu. Hay là điểm bổ Nguyên Huyệt của Thận Kinh là huyệt Thái Khê và điểm tả Lạc huyệt của Đại Trường Kinh là huyệt Thiên Lịch theo luật Tý Ngọ Lưu Chú, thêm Thận Du và Kinh Môn theo Du/Mộ và Tam Âm Giao là Lục hội huyệt của vùng bụng dưới...
Và giả sử khí huyết không lưu thông do bị Thận kinh bế tắc, ứ động thì ta điểm tả Khích Huyệt của đường kinh đi sau là huyệt Khích Môn của Tâm bào kinh theo luật Tả Tử. Hay là điểm tả Lạc huyệt Đại Chung của Thận Kinh và điểm bổ Nguyên huyệt Hiệp Cốc của Đại Trường kinh theo luật Tý Ngọ Lưu Chú.....
Vài ví dụ để cho các bạn hiểu thêm một phần nguyên lý thuật Điểm Huyệt Đả Thông Kinh Mạch và cũng một phần làm sáng tỏ tác dụng của đồ hình Đồng Hồ Sinh Khí mà các bạn đã đọc từ Topic trước.
Và qua đó các bạn sẽ biết tại vì sao Thập Chỉ Chân Truyền lại lấy Hư và Thực làm Soái Lý như một cẩm nang để tham thấu học thuật Đông Y.
Vì vậy cái quan trọng bậc nhất trong bài này là hướng các bạn đến bài học tiếp theo là thế nào Hư, là Thực và xác định Hư Thực theo Mạch Vị và Bệnh Lý Đại Cương như thế nào một cách đơn giản và chính xác nhất.
Phần tiếp theo sẽ là một phần Điểm Nhãn thật quan trọng đó là phần Thái Âm Hư Thực Mạch, một phương pháp chẩn mạch Hư Thực tuyệt chiêu của Thái Âm Công Ngũ Đài Sơn dưới sự soi sáng của Y Lý của Thập Chỉ Chân Truyền. Mời các bạn đón xem
 
Quảng Nhẫn Lê Thuận Nghĩa
Thực hiện