Home Không dùng thuốc » Diện chẩn Việt y đạo » Cơ sở lý thuyết của Điều khiển liệu pháp

Cơ sở lý thuyết của Điều khiển liệu pháp

GS. TSKH.  Bùi Quốc Châu
Định nghĩa
Điều Khiển Liệu Pháp là phương pháp phòng và trị bịnh bằng cách tác động với nhiều hình thức khác nhau (châm, chích, lể, hơ nóng, chườm nóng, chườm lạnh, xoa, day, dán cao, bấm, ấn, vuốt, bôi dầu, xung điện, v.v…) vào những Vùng và Phạm Vi Bộ Mặt. Vì bộ mặt nằm trong phạm vi đầu não, và vì những huyệt trên mặt có tính cách điều khiển các bộ phận trong cơ thể (giúp cơ thể điều chỉnh từ cơ quan đầu não), nên phương pháp này gọi là Điều Khiển Liệu Pháp. Nếu xét trên lý thuyết Điều khiển và Thông Tin Sinh Vật học, thì mỗi huyệt trên Mặt là một trạm thu, phát, thông tin của cơ thể; đồng thời cũng là nơi để tự Điều Chỉnh, Xử Lý thông tin. Có thể nói mỗi huyệt vừa là một bộ phận Nhận - Phát thông tin, vừa là một bộ phận Điều Chỉnh thông tin.
Các thuyết trong điều khiển liệu pháp
1. Thuyết đồng bộ thống điểm
Khi trong cơ thể có sự bất ổn xẩy ra tại một cơ quan hay bộp hận nào đó, thì ngoài những triệu chứng như: cảm giác đau tại chỗ (cục bộ) mà còn xuất hiện một hay nhiều chỗ đau tương ứng (đồng bộ thống điểm) tại vùng phản chiếu của nó ở trên Mặt. Những cảm giác như: đau, thốn, cộm, mỏi, tức, nhói, tê, nhức, nóng, rát, v.v…tại những điểm đau này, luôn tỷ lệt huận với mức độ và tình trạng của bịnh chứng đang xẩy ra. Do đó, khi điểm đau đó gia tăng, thì bịnh tình thêm nặng, hoặc điểm đau đó giảm, thì bịnh cũng giảm theo. Và khi điểm đau (hay cảm giác) đó không còn đau nữa, thì cũng có nghĩa là, cơn bịnh đã được dứt điểm hoàn toàn. Thật ra, cảm giác đau xuất hiện cùng một lúc (đồng bộ) với bịnh đang xẩy ra trong cơ thể, và cảm giác đau đó, cũng chỉ là một trong những biểu hiện của bịnh lý mà thôi. Trên thực tế, ngoài những cảm giác đau vừa nêu trên, còn có rất nhiều dạng biểu hiện khác thường và bất thường khác cũng xẩy ra đồng bộ với căn bịnh đang xẩy ra. Cho nên, khi chẩn đoán và trị bịnh, chúng ta cũng cần phải lưu tâm đến. Nếu không thì sự chẩn đoán bịnh sẽ kém đi phần chính xác.
2. Thuyết bất thống điểm
Thuyết bất thống điểm là thuyết nhằm mục đích bổ sung cho Thuyết đồng bộ thống điểm thêm rõ ràng. Tương tự như Thuyết đồng bộ thống điểm, khi một cơquan hay bộ phận nào trong cơ thể có bịnh, thì nơi vùng tương ứng với nó trên mặt, cũng sẽ xuất hiện một hay nhiều điểm không đau (bất thống điểm), hoặc có cảm giác đau ít hơn so với điểm bên cạnh. Đặc biệt, những điểm không đau này, thường nằm trong vùng đau tương ứng (phản chiếu) với bộ phận có bịnh trong cơ thể (Âm trung hữu Dương căn, Dương trung hữu Âm căn). Cho nên, nhiều khi châm vào những điểm không đau này, lại mang đến kết quả tốt hơn là trên những điểm đau. Đây là kết quả kiểm nghiệm trên kinh nghiệm lâm sàng. Tóm lại, số điểm không đau này, thường tỷ lệ thuận với mức độ và tình trạng bịnh. Nghĩa là, nếu bịnh thuyên giảm thì số điểm không đau cũng giảm theo, cho đến khi hết bịnh thì những điểm không đau cũng biến mất.
Thuyết này cũng như Thuyết đồng bộthống điểm có giá trị đối với tất cả các huyệt trên toàn cơ thể.
3. Thuyết thái cực
Vận dụng thuyết phản chiếu, chúng tôi thấy bộ mặt còn là nơi phản chiếu của thái cực. Ở đó, nó được thể hiện như sau:Thái cực sinh lưỡng nghi: Âm-Dương
 Lưỡng nghi sinh tứ tượng: Thiếu Dương -Thái Dương -Thiếu Âm -Thái Âm
- Bên trên thuộc Dương (+), bên dưới thuộc Âm (-)
- Từ dưới lên thuộc Dương-Từ trên xuống thuộc Âm
- Bên phải thuộc Dương - Bên trái thuộc Âm
- Từ trái qua phải thuộc Dương -Từ phải qua trái thuộc Âm
- Từ ngoài vào trong thuộc Dương -Từ trong ra ngoài thuộc Âm
- Chiều thẳng đứng thuộc Dương - Chiều nằm ngang thuộc Âm
- Âm Dương đối xứng nhau qua một trục hay một tâm điểm trung tính - phi Âm phi Dương
- Âm Dương vừa có tính đối kháng vừa có tính phù trợ nhau
- Âm Dương ở khắp mọi nơi. Nơi nào có Âm tất có Dương hoặc ngược lại
- Trong Âm có Dương - trong Dương có Âm
- Âm Dương biến hoá từ sự thay đổi của không gian và thời gian
- Cực Âm sinh Dương - cực Dương sinh Âm
- Dương tụ Âm tán: Âm hàm Dương ; Âm tụ Dương tán: Dương hàm Âm
- Cô Âm bất sinh - độc Dương bất trưởng
4. Thuyết phản phục
“Vật cực tất phản”: Cực Âm sinh Dương, Cực Dương sinh Âm.
Tùy theo tình trạng bịnh lý, mỗi huyệt thích nghi với một tần số, cường độ và thời gian khích thích nhất định. Nếu vượt quá thời hạn đó sẽ gây ra sự phản tác dụng, hoặc đôi khi không còn tác dụng nữa. Điều này cũng có nghĩa là nếu chưa đạt được mức nhất định nói trên thì kết quả cũng sẽ không đạt được trọn vẹn.
Lưu ý: Quá trình tự điều chỉnh vừa mô tả trên, chỉ xẩy ra đúng với lý thuyết, khi được kích thích một lần, và sau đó để yên kim cho đến khi có cảm giác ngứa báo hiệu sự chấm dứt chu kỳ điều chỉnh. Nếu hết giai đoạn này, ta lại kích thích lần thứ nhì thì lại xẩy ra một chu kỳ điều chỉnh mới
Như trên (mỗi lần kích thích tạo nên một cung phản xạ mới). Do đó, sẽ có hai trường hợp:
1- là sự kích thích liên tục ngay từ đầu.
2- là sự lưu kim qua nhiều chu kỳ điều chỉnh trọn vẹn sẽ đem lại kết quả trị liệu lâu bền hơn.
Tóm lại, mỗi huyệt có một định mức về thời gian, tần số và cường độ kích thích tương ứng với bịnh.
Thuyết này có giá trị với các hình thức tác động vào huyệt như châm kim, điện châm hay dán cao. Nhưng rõ nét nhất là hình thức châm kim.
5. Thuyết đối xứng
Một số huyệt trên cơ thể, nhất là trên mặt, có tính đối xứng ở nhiều chiều không gian. Có 3 trục đối xứng quan trọng trên mặt là:
- Trục dọc giữa mặt (tuyến O)
- Trục ngang giữa mắt (tuyến V- Huyệt 8)
- Trục ngang qua gốc chân mày (tuyến IV - Huyệt 26)
Có 2 tâm đối xứng quan trọng trên mặt là H.26 (tuyến IV) và H.19 (giữa tuyến VIII và IX). Những huyệt hay bộ phận đối xứng nhau thì có tính tương tự hay kháng nhau. Do đó có thể tăng cường hay hóa giải nhau. Ví dụ H.106 đối xứng với H.8 qua H.26. Hai huyệt này có tính tương tự nhau nhưng cũng có tính đối kháng nhau nên có thể hóa giải nhau khi được tác dụng đúng lúc.
6. Thuyết “Bình thông nhau”
Giữa người chữa bịnh và bịnh nhân có mối quan hệ kiểu “bình thông nhau”. Mối quan hệ này bị chi phối bởi luật tương thông, tương tác và phản hồi.
Trường hợp này thường xẩy ra ở phạm vi điều trị bằng châm cứu hay án ma (xoa bóp) hơn là bằng thuốc. Ví dụ: người thầy châm cứu sẽ mắc phải đúng bịnh của bịnh nhân mà mình chữa (nhất là khi người chữa bịnh kém sức khỏe hơn người bịnh).
7. Thuyết “Nước chẩy về chỗ trũng”
Mỗi huyệt trên mặt khi bị tác động sẽ chuyển “khí” về nơi cơ quan hay bộ phận đang có bịnh chứ không chuyển về nơi không có bịnh. Điều này có thể nhận ra rõ ràng khi bịnh thật nặng. Nói một cách khác hơn, bịnh càng nặng thì đường dẫn truyền càng rõ rệt. Trái lại, đường dẫn truyền càng yếu kém thì bịnh trạng càng thuyên giảm, và đường dẫn truyền sẽ biến mất khi căn bịnh dứt hẳn. Hiện tượng này, tương tự như nước chỉ chẩy vào chỗ trũng (đang thiếu nước), chứ không chẩy vào chỗ đang đầy nước. Thuyết này cũng giải thích tại sao khi cùng một huyệt mà có lúc lại dẫn truyền ra cánh tay, có lúc lại truyền ra phía lưng (ví dụ: huyệt 0). Đó là tùy theo bịnh nhân đang bị bịnh ở đâu. Tuy nhiên, ta cũng nên biết: mỗi huyệt chỉ liên hệ đến một số cơ quan hay một bộ phận mà thôi.
Chú thíchĐường dẫn truyền là cảm giác rần nhẹ như kiến bò, dẫn đến cơ quan hay bộ phận đang bị bịnh, thường thấy ở các bịnh nhân nhậy cảm khi châm trúng huyệt.
8. Thuyết sinh khắc
Có sự sinh khắc các huyệt trên Mặt. Sự sinh khắc này là tương đối, và phần lớn tùy thuộc vào chu kỳ khí lực giữa các huyệt với nhau, trong một thời điểm nào đó. Ví dụ: H.26 khắc H.6 . H.34 sinh H.124. Nghĩa là hai H.124 và H.34 khi đi chung với nhau sẽ phát huy tác dụng lớn hơn khi đi chung với các huyệt khác. 
Ngoài ra, cũng có sự sinh khắc giữa bịnh và cơ thể. Ví dụ H.127 khắc bịnh tiêu chẩy do lạnh bụng. H.26 giải rượu, giải độc. Có thể nói các bịnh trên kỵ các huyệt trên. 
Thuyết này cũng có giá trị trong Diện Chẩn: có sự sinh hay khắc giữa các dấu hiệu chẩn đoán và tình trạng bịnh lý. Ví dụ: bịnh nhân bị chứng nấc cục hay sưng chân thì khó tránh khỏi tử vong. Hoặc vùng má thuộc phế (sắc trắng), tự nhiên hiện ra sắc hồng (thuộc hỏa), thì có nghĩa là phổi đang có bịnh, vì hỏa khắc kim. Hay gò má thuộc tim (sắc đỏ) tự nhiên có mầu xanh đen (thuộc thủy) thì tim có bịnh vì thủy khắc hỏa, v.v …
 (Theo tài liệu của    Nhóm Diện Chẩn AZ-CA - Giáo trình Diện chẩn học)