Home Không dùng thuốc » Tác động cột sống » Trăm bệnh đều do cột sống mà ra

Trăm bệnh đều do cột sống mà ra

"Cột sống là chìa khóa của sự sống. Chính từ đó mà dây thần kinh giao cảm đi ra để chỉ huy mọi cơ quan nội tạng"
Sambucy


"Trăm bệnh đều do cột sống mà ra"
André Mahê
 
"Trăm bệnh đều do tủy sống bị kích thích"
Mark Kengi
 
"Cột sống là cây đời"
Danh ngôn Huy Lạp
 
"Cột sống là chìa khóa của sự sống"
Kim Tự Thập Ai Cập
 
Đông y: Trăm bệnh đều liên quan đến Tứ quan (2vai và xương hông)
- 2 vai liên quan đến phình cổ, chỉ huy chi trên
- 2 xương hông liên quan đến vùng thắt lưng, chỉ huy chi dưới
 


 
"Não và tủy sống là hệ thần kinh, điều tiết tất cả mọi hoạt động của cơ thể. Một mặt nó làm cho các bộ phận trong cơ thể thống nhất với nhau. Một mặt nó làm cho cơ thể thống nhất với ngoại cảnh, thiên nhiên và xã hội, chỗ mà cơ thể con người dựa vào đó mà sống"
Giáo sư, bác sỹ Đỗ Xuân Hợp
 
4 chức năng của tủy sống:
- Ý thức
- Dinh dưỡng
- Vận động sinh sản
2 đặc trưng của tủy sống:
- Chịu sự kích thích
- Thay cũ, đổi mới
3 phản xạ của tủy sống:
- Dựng chân lông
- Đổ mồ hôi
- Co cơ
3 đặc trưng gây nên bệnh tật:
- Vận động
- Cảm giác
- Thân nhiệt
Các huyệt Đông Y trên lưng:
- 17 huyệt Đốc mạch
- 32 Du huyệt
- 14 huyệt Hoa Đà giáp tích
Các dây thần kinh trên cột sống
- 12 đôi dây thần kinh sọ não
- 33 đôi dây thần kinh tủy sống
Mối quan hệ giữa thần kinh và thể dịch:
- Không có thể dịch thì thần kinh không hoạt động được.
- Không có thần kinh thì không có chuyển hóa
- Không có chuyển hóa thì không có vận động
 
Phương pháp tác sống cột sống áp dụng để chữa các bệnh sau:
- Hệ thần kinh: suy nhược thần kinh, tâm thần kinh, di chứng tai biến mạch máu não, đau đầu, mất ngủ
- Hệ tuần hoàn: huyết áp cao, huyết áp thấp, tim mạch, thiểu năng tuần hoàn não.
- Hệ nối tiết: các tuyến nội tiết: tuyến yên, tuyến giáp, tuyến cận giáp,tuyến thượng thận, tuyến sinh dục
- Hệ tiêu hóa: đại tràng, dạ dày, ruột non
- Hệ hô hấp: viêm họng, phế quản, ho, phổi
- Hệ xương khớp: vôi, gai, thoái hóa đốt sống, lệch đĩa đệm cột sống, đau các khớp vai, gối, tay, chân
 
Các bệnh do nhiễm trùng, gãy xương không thuộc phạm vi chữa bệnh bằng phương pháp tác động cột sống;
 
- Kiêng kị: Không ăn tôm và thịt bò gây co cơ
 
Mục đích của chữa bệnh theo phương pháp tác động cột sống:
- Nhiệt độ thay đổi dẫn tới tổ chức biến đổi.
(Nhờ có nhiệt độ da mà phương pháp tác động cột sống chữa được nhiều bệnh khó)
- Đốt sống biến đổi dẫn tới tủy sống biến đổi
- Tủy sống biến đổi dẫn đến tổ chức biến đổi
- Phục hồi được đường thẳng sinh lý của hệ cột sống
- Phục hồi được đường cong sinh lý của hệ cột sống.
 
Điểm cốt lõi của phương pháp tác động cột sống:
- Phục hồi sự ngay thẳng kín khít của cột sống để chữa bệnh
- Bảo vệ sự cân bằng cột sống để phòng bệnh
 
Xác định trọng điểm và giải tỏa trọng điểm:
- Vấn đề cốt lõi của phương pháp tác động cột sống là phải: Xác định trọng điểm và giải tỏa trọng điểm:
- Trọng điểm là đốt sống bệnh lý, có lớp cơ bệnh lý phủ lên.
- Khi ta chữa đúng trọng điểm thì nhiệt độ tương ứng với nội tạng và nhiệt độ địa phương sẽ trở lại bình thường
- Chữa đúng trọng điểm sẽ làm cho đốt sống bệnh lý,lớp cơ bệnh lý và nhiệt độ bệnh lý tương ứng với nội tạng trở lại bình thường làm cho khỏi bệnh.
 
Thế nào là trọng điểm đã được giải tỏa:
- Nhiệt độ 3 vùng trở lại bình thường
- Các lớp cơ trên đầu gai sống, các lớp cơ ở khe đốt, cạnh đốt phải mềm mại, phải sờ vào đến đầu gai sống. Các lớp cơ bệnh lý phải thư nhuận trở lại bình thường.
- Các điểm đau bệnh lý và các điểm đau thuộc ổ bệnh trên cột sống phải hết đau.
- Các đốt sống bệnh lý phải trở lại bình thường, ngay thẳng,kín khít, phục hồi đường cong sinh lý và đường thẳng sinh lý của hệ cột sống.
- Trên các lớp cơ bệnh lý phải tiết ra 1 chất dấp dính như mồ hôi. Đó là hiện tượng đến ngưỡng.
 
Điều quan trọng đầu tiên khi khám và chữa bệnh phải xác dịnhđược và giải tỏa được 3 vùng nhiệt độ bệnh lý:
- Nhiệt độ da là bó đuốc soi đường trong khi khám và chữa bệnh.
- Vì nhiệt độ da biến đổi là cơ sở để xác định về sinh lý và bệnh lý của cơ thể. Người có bệnh và không có bệnh.
- Có nhiệt độ da mới xác định được trọng điểm.
- Nhiệt độ da là cơ sở để thăm dò, tiên lượng bệnh, để theo dõi sự tiến triển của bệnh, để chữa bệnh được an toàn.
- Không tìm được nhiệt độ thầy thuốc sẽ mất đi phương hướng và sẽ rơi vào tình trạng chữa bệnh mò, chỉnh cốt học.
 
Ngón tay khi chữa bệnh:
- Khi đặt ngón tay vào chữa bệnh, ngón tay không được cứng nhắc, phải buông chùng gân cơ. Ngón tay gần như không có trương lực.
- Đặt ngón tay xuống nhưng không buông trôi, không tập trung lực vào đầu ngón tay.
- Phải thao tác nhẹ nhàng trên lớp cơ ngoài, tạo cảm giác êm dịu cho người bệnh.
- Không được ấn sâu, ghì mạnh để làm sầy da bệnh nhân.
 
2 nguyên tắc cơ bản trong khi khám và chữa bệnh:
- Chẩn bệnh lấy nguyên tắc đối xứng là cơ bản.
- Trị bệnh lấy nguyên tắc tạo sóng cảm giác là chính.
 
Làm thế nào để tạo được sóng cảm giác:
- Khi thầy thuốc đã sờ thấy đầu gai sống rồi mới được rung.
- Khi rung phải rung bằng đầu ngón tay và cổ tay, không được rung cả cánh tay hoặc cả thân người.
- Muốn rung được, phải tách đôi đốt sống lồi làm 2 phần, bằng cách dùng: 2 đầu ngón cái dựng lên cùng day vào giữa đốt sống lồi để tách lớp cơ lồi thành 2 phần.
Sau đó tập trung giải tỏa từng phần 1, cho đến khi lớp cơ thư nhuận, thầy thuốc sờ được vào đầu gai sống, lúc đó mới rung.
- Muốn rung được phải nén tĩnh. Dùng 2 ngón cái đè lên nhau. Ngón sát da phải rung. Ngón đặt ở trên phải nén tĩnh.
 
Lớp cơ bệnh lý:
- Lớp cơ bệnh lý là lớp cơ ngoài. Khi ta đẩy vào lớp da,thì hệ cơ dồn lại, nhưng không bị gợn lên. Đó là lớp cơ bệnh lý, ta phải tác động vào đó.
- Trường phái Palme lấy hệ cột sống làm gốc, phương pháp tác động cột sống lấy hệ cơ là chính, là gốc, là động. Còn hệ cốt sống là tĩnh. Hệ cột sống cử động được là do mọi sự điều khiển của hệ thần kinh.
 
Diễn biến của lớp cơ bệnh lý:
- Tủy sống bị kích thích gây co cơ
- Co cơ gây thành xơ.
- Xơ gây vôi hóa, cứng
- Vôi hóa, cứng gây nên đốt sống bị dính cứng.
- Đốt sống bị dính cứng gây nên hạn chế vận động.
 
Lớp cơ bệnh lý với bệnh chứng:
1- Thể rộng lớn = bệnh mới
Thể hẹp = bệnh lâu năm
Thể cường = giai đoạn 1 co cộm
Thể nhược = giai đoạn 2 co mỏng
2- Loại co cứng mỏng nặng hơn loại co cứng dày
- Loại mềm dày nặng hơn mềm mỏng.
- Loại co, cứng, mỏng dễ chết
- Loại co cuwsngs gọn gàng khó chữa
3- Liên quan đến bệnh chứng:
- Co, cứng dày - teo, co dày liên quan đến bệnh cột sống
- Xơ: liên quan đến nội tạng, vận động.
- Teo, sần sùi: Đốt sống vôi hóa, thừa canxi, phim màu trắng.
- Co dày: Đốt sống thoái hóa (thiếu canxi)
- Cứng dày: Đốt sống dính khớp
- Cơ bùng nhùng, mềm dày: Lao
- Sợi dẹt: Ung thư
- Cơ teo trên: Đốt dống lõm
- Cơ teo dày: Đốt sống lồi
- Cơ co cụm nhưng không căng: Đốt sống lồi
- Cơ thẳng lưng 2 bên co cứng: Đốt sống lõm
 
Tư thế người bệnh để thăm khám và chữa lớp cơ:
- Lớp cơ ngoài: Người bệnh ở tư thế làm căng lớp cơ vùng phải chữa. Không được để chùng gân cơ
- Lớp giữa: Người bệnh ngồi thẳng
- Lớp trong: Người bệnh oằn lưng

TÁC ĐỘNG CỘT SỐNG