Nhìn mặt đoán bệnh

(hotrosuckhoe.vn) “ Nhìn mặt bắt tay có thể biết bách bệnh ” đây là sự kết tinh của nền Y học cổ truyền kết hợp với kinh nghiệm dân gian. Xét về mặt sinh lý học hiện đại, mỗi con người đều là một thể tổ hợp hoàn chỉnh, bất kể dung mạo thể hình bên ngoài hay lục phủ ngũ tạng bên trong, đều liên quan chặt chẽ với nhau, có thể nói là nhổ một sợi tóc, cũng động cả toàn thân.



Chỉ cần một nơi nào đó trên cơ thể có ẩn chữa bệnh tật thì các nơi khác như đầu mặt, chân tay..đều sẽ có biểu hiện khác thường. Chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu tường tận về các phương pháp để làm thế nào mà thông qua việc quan sát các bộ phận trên cơ thể, tướng mạo và ngoại hình các bạn sẽ biết và đoán ngay được bệnh tật mà mình hoặc người khác đang mắc phải, từ đó sớm phát hiện, chạy chữa kịp thời.
 

nhin_mat_doan_benh


I. Nhìn bệnh qua tóc:
 
Y thuật cổ truyền viết “ Kỳ hoa tại tóc”hay “ Xem tóc anh ta khô hay trơn là có thể đoàn được bệnh phủ tạng” Nhìn tóc biết bệnh chủ yếu thông qua nhìn sự thay đổi chất, màu sắc của tóc, chất dịch trên tóc để xác định căn bệnh tiềm tàng hoặc nắm bắt thịnh suy của thận khí.
 
Tóc bạc trước tuổi. Nếu thanh niên mà bạc tóc thì phải kiểm tra là do di truyền, do yếu tố tinh thần hay do bệnh tật dẫn đến. Các bệnh như: lao, dạ dày, thiếu máu, xơ cứng động mạch… đều có thể dẫn đến việc bạc tóc trước tuổi.
Tóc quá đen hoặc dần dần trở nên đen sì là có xu hướng mắc chứng ung thư.
 
Tóc rụng bất bình thường thì cơ thể có thể thiếu kẽm, tóc yếu giòn dễ đứt cho thấy tuyến giáp trạng có vấn đề. Người trưởng thành mà tóc khô lại ít thì đa số là do thận yếu, khí huyết hư thoái gây ra.
Rụng tóc ở đỉnh đầu thường cho thấy có khả năng bị viêm thận, viêm kết tràng, viêm túi mật. Rụng tóc kèm theo mất dần cả lông trên toàn thân là biểu hiện của nội tiết cần thăm khám ngay.
 
Mối ngày rụng cả trăm sợi tóc, rụng cả túm rơi xuống đó là triệu chứng của bệnh hói đầu cần tìm ra nguyên nhân và chữa trị sớm. Nam giới nếu tóc trơn nhờn, chân tóc phía trước trán lui về sau rõ rệt, da đầu ngứa do nhiều gàu thì cũng dễ bị hói đầu.
 
Bất luận nam hay nữ, khi chải đầu, gội đầu thấy tóc dễ gãy rụng, vết rụng tóc không đau ngứa, to bằng hạt đậu tương trên đầu thì phải đề phòng bệnh trọc đầu, dân gian gọi là “ quỷ cạo đầu”.
 
Lưu ý : Nhìn tóc biết bệnh không áp dụng cho người già, vì các biểu hiện ở trên nếu có ở người già thì đó có thể là hiện tượng suy thoái tự nhiên, không thuộc về trạng thái bệnh tật.
 
II. Nhìn bệnh qua lông mày:
 
Lông mày bình thường phải thô dài, dày rậm, mượt mà đen bóng, còn lông mày khác thường thì thưa, ngắn ngủn, khô rụng, ngả vàng.
 
Lông mày dày rậm thô dài cho thấy thận khí dồi dào, thân thể khỏe mạnh. Lông mày quá thưa, lại cằn cỗi cho thấy thận khí suy yếu, tiềm tàng nhiều bệnh. Lông mày quá thưa hoặc bị rụng thường thấy ở những người bị bệnh phù niêm dịch, chức năng của tuyến giáp trạng và tuyến yên bị suy giảm
Người có đuôi lông mày thẳng và khô, nếu là nữ có thể kinh nguyệt không bình thường, nếu là nam thì đa số mắc bệnh về hệ thần kinh.
 
Phụ nữ mà lông mày đặc biệt đen dày, có liên quan đến cơ năng sinh lý của tuyến thượng thận quá mức bình thường.
Ở chỗ lông mày da dày và teo, lông mày thưa, bị rụng thì phải kiểm tra xem có bị mắc bệnh phong không để kịp thời chữa trị. Nếu lông mày ngả sang đỏ thì có khả năng chứng phiền nhiệt, háo khát
 
Nếu thường xuyên nhổ lông mày để làm đẹp dễ dẫn đến các chứng :viêm chân lông, tổn thương thần kinh xung quanh mắt khiến bị mờ mắt nhìn không rõ. Do lông mày bị nhổ không mọc lại nữa nên về già sẽ trở nên không tự nhiên.
 
III. Nhìn bệnh qua khuôn mặt:
 
1. Thần sắc. Khám bệnh qua khuôn mặt là quan sát thần sắc (tinh thần và khí sắc), mà thần sắc của khuôn mặt là sự phản ánh tổng hợp tinh, thần, khí, huyết của toàn thân.
 
Dựa trên đồ hình và sinh huyệt trên khuôn mặt mà Lương y Bùi Quốc Châu đã sáng tạo ra bộ môn Việt Y Diện chẩn vô cùng ảo diệu, trị bách bệnh chỉ bằng tác động vào các huyệt đạo ở trên khuôn mặt. Nói vậy để biết tầm quan trọng của việc nhìn mặt bắt bệnh, quan sát tỷ mỷ thần thái, sắc diện, nét mặt của người bệnh.
 
Thần sắc có thể chia làm 3 loại:
 
Đắc thần là thần sắc bình thường. Hai mắt người bệnh linh hoạt và có màu ánh sáng, thần khí rõ ràng, phản ứng nhanh nhạy, động tác mạnh mẽ cho thấy chức năng của phủ tạng chưa bị tổn thương. Cho dù bệnh tình khá nặng nhưng rồi sẽ tốt đẹp, được coi là thuận chứng.
 
Thất thần là thần sắc khác thường. Sắc mặt người bệnh u ám, tinh thần ủ rũ, phản ứng chậm chạp, mắt đờ đẫn, không nói năng gì, hỏi một đằng đáp một nẻo thì gọi là thất thần. Hiện tượng cho thấy chính khí đã bị thương, bệnh tình tương đối nặng, về sau sẽ không tốt. Thất thần nếu nặng có thể kèm theo các triệu chứng như nói năng lung tung, thần chí hôn mê… lâm sàng gọi là nghịch chứng.
 
Giả thần là ngoài mặt như có thần nhưng thực tế là vô thần. Thường gặp ở người bị bệnh mãn tính, bệnh nặng, tinh thần cực kỳ suy nhược. Chẳng hạn như bình thường trầm ngâm ít nói, tiếng nói khe khẽ, tiếng được tiếng mất nay đột nhiên nói không ngừng, giọng rành rọt; bình thường thần khí mơ hồ, bỗng nhiên tỉnh táo, bình thường không ăn uống được nay đột nhiên ăn từng miếng to như đang đói lả ; bình thường suốt ngày nằm lỳ nay bỗng nhiên ngồi dậy, xuống đất đi lại ; bình thường sắc mặt u ám, bỗng nhiên hai má đỏ ửng ; những hiện tượng khác thường này là một loại hiện tượng bề ngoài trước khi âm dương ly biệt, dân gian gọi là sự tỉnh táo trước lúc chết, lâm sàng gọi là giấu hiệu của đèn tắt vụt sáng. Cho thấy bệnh tình sẽ xấu đi nhanh chóng. Những người bệnh này nếu không kịp thời cấp cứu sẽ nguy hiểm đến tính mạng.
 
2. Nhìn sắc mặt. Sắc mặt bình thường là hơi trắng vàng pha chút hồng hào, da tươi ánh. Nhìn sắc mặt phải chú ý hai phương diện sắc và màu. Nói chung, bất kể là màu sắc gì, nếu tươi tắn, sáng sủađều chứng tỏ rằng biến đổi bệnh lý nhẹ, khí huyết chưa suy. Nếu như u ám, tiều tụy cho thấy bệnh tình trầm trọng, tinh khí tổn thương nặng.
 
* Mặt đỏ : Đa số là chứng nhiệt. Một số bị cao huyết áp nên mao mạch giãn nở khiến mặt mũi hồng hào. Nghĩ đến bị sốt nhẹ, mụn nhọt ban đỏ ; nếu trên quai hàm là có tâm bệnh, trúng độc mặt cũng nổi lên màu đỏ anh đào. Mặt đỏ kèm theo miệng khát, thậm chí co giật thường thấy ở người bị sốt cao do viêm nhiễm cấp tính gây ra.
 
* Mặt vàng : Phải phân biệt mặt vàng do bệnh tật hay do ăn uống gây ra. Nếu củng mạc (tròng trắng mắt) và toàn thân đều có màu vàng là triệu chứng bệnh viêm gan kiểu hoàng đản, túi mật kết sỏi, viêm mật, ung thư mật, ung thư đầu tụy. Mặt bị khô vàng có thể bị giun móc câu ; hoặc mặt bị vàng sáng hoặc vàng tối, vàng vọt là các chứng thấp nhiệt, tâm tì yếu ớt hoặc ngộ độc thuốc sốt rét.
 

 nhin mat doan benh
Nếu mắt trắng và hơi vàng thì có thể bạn đang có nguy cơ bị bệnh gan.
Người thiếu máu thông thường có sắc mặt và mắt màu trắng bệch

 
* Mặt trắng : Người khỏe mạnh là trắng hồng. Mặt trắng bệch là hư hàn, thiếu máu, đau bụng do lạnh trong hoặc bệnh phổi nếu kèm trắng ở hai lông mày. Nếu trắng xám, y học gọi là mặt chì thường thấy ở người ngộ độc chì ; mặt trắng nhợt dễ bị viêm thận, tuyến giáp suy yếu, bệnh máu trắng, ký sinh trùng đường ruột, thiếu dưỡng khí, dinh dưỡng. Những người bị các bệnh có máu chảy, bệnh trĩ, phụ nữ kinh nguyệt quá nhiều mặt mũi cũng trở nên trắng nhợt. Bệnh nhân bị choáng sốc do tuần hoàn máu trên mặt gặp trở ngại nên cũng bị tái nhợt mặt. Y văn cho rằng những người mặt trắng nhợt thuộc về chứng hàn và chứng hư, nên thể hình dù có to béo nhưng vẫn là khí hư hoặc dương hư nên thể chất rất kém, dễ bị cảm mạo.
 
* Mặt tím bầm : Nói chung, sắc mặt tím bầm thường do thiếu dưỡng khí gây ra. các chứng bệnh ngạt thở, tâm lực suy kiệt, bệnh tim bẩm sinh, bất luận do nguyên nhân nào gây ra, đều có thể xuất hiện hiện tượng mặt tím bầm. Khi đau xoắn mật do bệnh về đường mật gây ra hoặc đau dạ dày, đau ruột co giật cũng có thể làm mặt tím bầm. Người bị bệnh kết hạch phổi thời kỳ cuối, bệnh dãn phế quản, viêm phế quản mãn tính và bệnh phổi trầm trọng thì sắc mặt thường xanh xám. Trẻ sốt cao, mặt tím bầm, rõ nhất là ở sống mũi và giữa hai lông mày, là triệu chứng của bệnh kinh phong. Ngoài ra, khi phải chịu đựng một số đau đớn dữ dội nào đó thì mặt cũng thoáng xuất hiện tím bầm.
 
* Mặt đen: Là triệu chứng của bệnh mãn tính. Người mắc các chứng bệnh như chức năng tuyến thượng thận suy yếu, chức năng của thận không hoàn chỉnh bị mãn tính, chức năng của tim phổi tắc nghẽn mãn tính, bệnh xơ gan, ung thư gan. Bệnh càng nặng, sắc mặt càng đậm. Cổ nhân nói “ Màu đen có từ đình, to bằng ngón tay, tất không bệnh mà chết” “đình” là vị trí cao nhất ở trên trán, nơi này xuất hiện sắc đen cho biết đây là dấu hiệu bệnh tình nghiêm trọng, bệnh nhân thường sẽ suy kiệt mà chết.
 
3. Nhìn nét mặt.
Tứ chẩn trong y học dân tộc (vọng, văn, ván, thiết). Tứ chẩn trong y học hiện đại (nhìn, sờ, hỏi, nghe) đều coi việc nhìn vào người là một thủ pháp chẩn đoán bệnh, Việc quan sát tình trạng bên ngoài của phần mặt vẫn là một bộ phận hợp thành quan trọng trong nhìn người đoán bệnh. Bởi vì dáng, nét mặt của con người thể hiện rõ cơ bắp đầy đặn khoẻ mạnh, huyết mạch lưu thông đầy đủ, lại là nơi tập trung chi phối thần kinh của đầu do đó rất nhiều nbệnh tật của con người biểu hiện ra một cách tương ứng dáng nét điển hình ở trên mặt.

Dáng nét mặt của người bình thường, khoẻ mạnh: mắt và lông mày trông thanh tú, đôi mắt tinh anh, lanh lợi, sắc sảo, da dẻ bóng bảy, mịn màng. Nếu lấy sống mũi làm đường thẳng đứng ở chính giữa mặt thì điểm giữa của đội dài của nó (tức điểm giữa chiều dài của đầu) có khác nhau tuỳ theo với tuổi tác. Lúc mới sinh ra thì điểm giữa của độ dài của nó ở giữa hai bên lông mày, hai mắt thì ở phía dưới điểm giữa đó một chút. Về sau, cùng với sự lớn lên của tuổi tác, xương mặt và xương mũi phát triển dài thêm ra, thì điểm giữa đó dần dần chuyển dịch về phía dưới, đến khi thành niên rồi thì điểm giữa này tương hợp với mức ngang bằng hai mắt.

Dáng nét mặt khác thường có thể chọn ra khai loại: Một là có tính chất tạm thời, hai là có tính chất vĩnh cửu. Có những trường hợp là do hoàn cảnh, có những trường hợp là do bởi nhân tố tinh thần tạo nên, có những trường hợp là do bệnh tật có tính bẩm sinh hoặc bệnh tật khi lớn lên tạo ra.
Dáng nét mặt khác thường không những ảnh hưởng đến dung nhan con người, mà còn có thể là bằng chứng dùng để tham khảo chẩn đoán là co thể sắp có bệnh hoặc đã mắc những bệnh tật gì rồi. Dáng nét mặt khác thường nói chung có thể phân chia ra mấy loại:

1. Dáng nét mặt phù thũng: Khi phù thũng ở mặt, lấy tay trỏ ấn vào ngoài da trước trán, thấy hình thành vệt lõm tạm thời. Trường hợp như vậy nói chung thường thấy ở những ngườibị bệnh thận, bệnh tim, cũng có thể thấy ở những người bị bệnh đái đường nữa.

2. Dáng nét mặt béo giả tạo: Trên mặt biểu lộ ra nét ngờ nghệch, cứng đơ như đeo trăn mặt một cái gì vậy. Trường hợp này phần lớn có ở những người bị viêm não, bị tê liệt, run lẩy bẩy.

3. Dáng nét mặt như cười gượng: Răng nghiến xít lại, cơ mặt co giật, tay chân run lẩy bẩy, đó là dáng nét điển hình của những người bị cảm gió.

4. Dáng nét mặt sợi hãi: Nhãn cầu lồi ra, mắt ánh lên sáng quắc, có những biểu hiện sợ hãi, thường thấy ở những người mà cơ năng sinh lý của tuyến giáp trạng quá mức bình thường làm lồi nhãn cầu ra.

5. Dáng nét mặt hùng hổ, dữ tợn: Các khớp xương và da trên mặt ở trạng thái tăng sinh, thường thấy ở những người bị bệnh phong ở dạng lở loét, cũng thấy ở những người bị mắc bệnh máu trắng có tính chất tế bào limpha.

6. Dáng nét mặt hiện rõ hai mảnh (múi) nhọn: Hai má đỏ sạm, môi miệng bầm tím, lòng dạ hoảng hốt, thở hổn hển, thường thấy ở những người bị bệnh tim có tính phong thấp và những người hẹp hai lá van tim.

7. Dáng nét mặt tròn bầu bĩnh: Mặt như trăng tròn, da ửng đỏ, thường có kèm theo cả mụn trứng cá ở mặt và râu lún phún, thường thấy ở những người màng thuần tuý tăng nhiều (bệnh tổng hợp Cushing) và những người sử dụng dài ngày kích thích tố màng tuyến thượng thận.

8. Dáng nét mặt của bệnh to béo ở đầu tay chân. Đầu to ra, mặt dài ra, cằm dưới to ra và nhô ra phía trước, hai xương to ra, tai mũi nở to ra, môi, lưỡi cũng dầy lên.

9. Dáng nét mặt tê liệt một bên: Động tác biểu lộ tình cảm ở một bên mặt hoàn toàn bị tê liệt, trán không có nếp nhăn, mắt dãn to ra, rãnh mép mũi bằng phẳng, mép trệ xuống, thường thấy ở những người bị tê liệt thần kinh mặt. Nếu có những triệu chứng trên mà mắt lại không thấy dãn to ra, thì có thể thấy ở những người liệt mặt ở trung khu mạch máu não.

10. Dáng nét mặt co giật một bên mặt: Cơ bắp ở một bên mặt co giật lộn xộn từng cơn một, có khi chỉ biểu hiện co giật trong nháy mắt (winking spasm) hoặc co giật ở mép. Những triệu chứng như vậy thường thấy ở những người mắc di chứng sau khi bị tê liệt thần kinh mặt và đau đôi thứ năm thần kinh não và có trở ngại ở thần kinh trung khu.

11. Dáng nét mặt bị huỷ hoại: Dáng nét mặt bị huỷ hoại là chỉ hiện tượng mặt do vì bị một bệnh nào đó làm cho dáng nét mặt bị huỷ hoại, không còn được bình thường như trước nữa. Có người thì chỉ là bị huỷ hoại đến dáng nét mặt, có người thị bị ảnh hưởng cả đến ngũ quan nữa, hoặc khi những chỗ bị huỷ hoại đã khỏi thì hiìn thành các vết sẹo dúm dó không phẳng phiu như bình thường. Những triệu chứng đó nói chung có thể thấy ở những người bị mắc các chứng bệnh như giang mai, bị mụn nhọt sau khi đã lành khỏi, bị bệnh phong, bị ung thư da ác tính, bị bệnh do chân khuẩn ănở tầng sâu bên trong, bệnh ghẻ cóc ...

12. Dáng nét mặt tăng thực thể: Nếu thấy các trẻ nhỏ có một dáng nét mặt đặc biệt khác như sống mũi rộng bằng phẳng, hàm cứng vổng lên, lợi răng nhô chìa ra ngoài, hàng răng không đều và khít, môi miệng dày ra, môi trên vểnh lên, mặt biểu hiện ra dáng nét đờ đãn, ngơ ngác, thì cần nghĩ đến khả năng tăng thực thể, béo ra. Dáng nét mặt như vậy gọi là "dáng nét mặt tăng thực thể".

13. Dáng nét mặt đỏ gay ("mặt Quan Công"): Khi bị các bệnh như cao nguyên, bệnh tim do bị bệnh phổi gây nên hoặc bệnh tiềm thuỷ, có thể thấy dáng nét mặt như người say rượu, mặt đỏ gay, được coi là "mặt Quan công". Đó là do hồng huyết cầu trong huyết dịch thì thiếu oxy mạn tính lâu ngày gây ra, đã tăng lên nhiều một cách khác thường gây ra hiện tượng đó. Lúc bấy giờ, hồng huyết cầu trong huyết dịch có thể cao gấp một hai lần bình thường gọi là chứng bệnh hồng huyết cầu chân tính tăng nhiều.

14. Dáng vẻ mặt của những người bị ốm nặng: Dáng vẻ mặt gầy đi ghê gớm, trông người đau khổ, rầu rĩ, sắc mặt vàng bệch, xương gò má dô ra, mắt sâu hõm vào, tính đàn hồi của da kém. Hiện tượng đó thường thấy ở những người mắc các loại chứng bệnh tiêu hao mạn tính, như bị lao nghiêm trọng hoặc khối u thời kỳ cuối.

15. Dáng vẻ mặt của những ngườ cơ năng tuyến giáp trạng quá mức bình thường: Cơ mặt gầy sút, nhãn cầu lồi ra, người có vẻ nôn nóng, dễ bực tức, có khả năng cơ năng của tuyến giáp trạng quá mức bình thường.

16. Dáng vẻ mặt của những người bị bệnh thương hàn: Trông dáng người lạnh lùng, phản ứng của nét mặt chậm chạp, uể oải, nói không ra hơi, có lúc còn xuất hiện lú lẫn, ấp a ấp úng, những hiện tượng đó thường thấy ở những người bị mắc các chứng bệnh có tính chất suy nhược, nhiệt cao như thương hàn, viêm màng não, viêm não.

Còn có thể nêu ra một số dáng nét mặt và sự biểu lộ tình cảm ở trạng thái bệnh tật nữa. Nếu được sự hướng dẫn của hững bác sĩ giàu kinh nghiệm mà lại chú ý để phân biệt rõ khi quan sát, tận mắt nhìn kỹ thì như vậy, những ấn tượng trong đầu óc sẽ càng sâu sắc hơn.
 

hotrosuckhoe.vn