Khí công

Khí công là sự tổng hợp các phương pháp dưỡng sinh chữa bệnh của người xưa, qua sơ bộ chỉnh lý, nâng cao đã trở thành phương pháp tự ôn luyện để giữ gìn sức khỏe, phòng bệnh và chữa bệnh độc đáo của dân tộc Việt Nam.


I. KHÁI NIỆM KHÍ CÔNG
1. Nguyên lý

Khí công là sự tổng hợp một số phương pháp dưỡng sinh chữa bệnh của người xưa, qua sơ bộ chỉnh lý, nâng cao đã trở thành phương pháp tự ôn luyện để giữ gìn sức khỏe, phòng bệnh và chữa bệnh.
Khí công là phương pháp rèn luyện tổng hợp: chủ yếu là làm cho vui tươi, gạt bỏ ý nghĩ xấu, xây dựng suy nghĩ tốt, làm cho con người điềm đạm, yêu đời, bình tĩnh, luyện thở để phát huy tốt nhất của thở, tăng cường hoạt động nội tạng, từ xoa bóp để giữ gìn ngũ quan, cơ, gân, khớp, y học dân tộc gọi là luyện thần, khí, tinh, ba vật quí của con người, để nâng cao chính khí, giữ sức khỏe, phòng bệnh và chữa bệnh.
Nội dung khí công gồm hai phần luyện ở tư thế tĩnh và luyện ở tư thế động. Luyện ở tư thế tĩnh là sự kết hợp chặt chẽ giữa 3 mặt luyện tập: tư thế, luyện thở và luyện ý khi thân thể ở trạng thái yên tĩnh. Mục đích chính của nó là luyện các bộ phận trong cơ thể.
Luyện ờ tư thế động cũng là sự kết hợp chặt chẽ giữa ba mặt luyện tập, luyện động tác, luyện thở, luyện ý. Mục đích của nó là luyện ngũ quan, gân cốt.
Tùy tình hình của mỗi người mà tiến hành luyện tập.
2. Phương pháp khí công
Từ tước đến nay ít người biết đến, ít người luyện tập nên có những nhận thức khác nhau, một là phương pháp quá đơn giản, coi khí công chỉ là phương pháp thở sâu, hai là quá thần bí.
3. Đặc điểm của phương pháp khí công

  • Là phương pháp tự tập để giữ sức khỏe, tự phòng bệnh.
  • Càng dày công luyện tập kết quả càng cao
  • Nó thông qua việc tự điều chỉnh những sự mất cân bằng của cơ thể; tự lực giữ gìn sức khỏe để phòng bệnh và chữa bệnh.,
  • Phương pháp này không những có tác dụng chữa bệnh mà còn chữa cả người bệnh, nhất là đối với người bệnh mạn tính .
  • Phương pháp này giúp con người nhận thức được, tự khống chế và tự điều chỉnh một số hoạt động sinh lý của bản thân.
  • Nó là phương pháp hợp với tự nhiên không tốn kém, không phiền phức.

4. Tác dụng của khí công
Không kể tác dụng của tự xoa bóp, luyện tư thế, luyện ý và luyện thở có những tác dụng nhất định đối với toàn bộ cơ thể. Xin giới thiệu một số kết quả nghiên cứu.
a. Đối với hệ thần kinh
Khi tập khí công, hoạt động của vỏ não ở vào trạng thái ức chế và trung khu thần kinh thực vật cũng ở trạng trái hưng phấn giảm đi và ức chế tăng lên, có lợi cho việc tăng cường hai quá trình hưng phấn và ức chế của thần kinh trung khu.
b. Đối với hệ hô hấp
Khi tập khí công, hoạt động của hô hấp có những thay đổi rõ rệt, và ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của cơ thể.
Số lần thở trong một phút giảm, số lượng khí thông qua phổi giảm từ 8,4 lít xuống 6,6 lít.
Số lượng không khí trong 1 lần trung bình tăng 78% tập ở tư thế nằm số lớn trường hợp, lượng 02 tiêu hao trong một phút trung bình giảm từ 188ml/phút xuống 157ml/phút. Lượng CO2 thải ra trung bình giảm (từ 100% xuống 81%).
c. Đổi với hệ tuần hoàn
Khi tập khí công, số lớn trường hợp có nhịp tim/ một phút giảm, mạch ngoại vi giãn, huyết áp cao hạ xuống và hạ thấp hơn ngay cả khi ngủ ngon nhất.
d. Đối với hệ tiêu hóa
Khi tập khí công lượng nước bọt ở tuyến mang tai tiết ra giảm đi song nó tăng lên sau khi kết thúc một lần luyện tập, biên độ cơ hoành tăng rõ rệt, nhu động của dạ dày tăng lên, số lần nhu động cũng tăng, thời gian đẩy thức ăn xuống ruột ngắn hơn, lượng dịch vị tiết ra tăng, nhu động ruột tăng. Trên lâm sàng thấy khí công có tác dụng tốt với táo bón, ỉa chảy.
Trên đây là tóm tắt một số kết quả nghiên cứu bước đầu về khí công, nó cho ta một khái niệm quan trọng là: khí công thật sự là phương pháp có cơ sở khoa học, thông qua ảnh hưởng đối với hệ thần kinh, hệ hô hấp để tác động đến toàn bộ cơ thể, cải thiện trạng thái cơ năng, nâng cao sức đề kháng và điều chỉnh những sự mất cân bằng trong cơ thể để giữ sức khỏe, phòng bệnh và chữa bệnh.
 
II. TRÌNH TỰ MỘT LẦN LUYỆN KHÍ CÔNG
1. Phần chuẩn bị
a) Chuẩn bị hoàn cảnh: ánh sáng vừa phải, không có gió lùa, yên tĩnh chỗ nằm ngồi hoặc đứng thích hợp.
b) Chuẩn bị bản thân: sắp xếp thời gian tập, đại tiểu tiện, nới rộng quần áo (uống một cốc nước ấm nếu có)
2. Phần luyện tập: nói chung gồm 3 phần
a) Luyện ở tư thế động: tạo điều kiện đi từ động vào tĩnh.
b) Luyện ở tư thế tĩnh: để tinh thần đi đâu vao yên tĩnh, luyện nội tạng
c) Luyện ở tư thế động: để cốt cứng cáp hơn, chú ý trở lại cuộc sống bình thường, tập ngũ quan và phòng cảm mạo.
3. Sơ bộ nội dung một lần tập ở người khỏe
a) Luyện ở tư thế động: gõ răng, vận động lưỡi, xoa bụng.
b) Luyện ở tư thế tĩnh: ngồi thõng chân, làm giãn cơ thể rồi chuyển chú ý vùng rốn, thở tự nhiên và chuyển dần thành thở sâu.
c) Luyện ở tư thế động. xát mặt xoa bóp tai, quay cổ xát lưng, vận động lưng, hai tay giơ ngang, 2 tay đỡ trời, tập xong chỉnh đốn tư trang và kết thúc.







4. Luyện khí công ở người loét dạ dày và hành tá tràng .
Làm như người khỏe, chú ý:

  • Phần a - tăng xoa bụng
  • Phần b - chủ yếu là thở sâu kiểu bụng
  • Phần c - nếu có táo bón, động tác hai tay đỡ trời phối hợp co rút hậu môn.

Lúc sắp lên cơn đau hoặc bắt đầu cơn đau dạ dày

  • Phần a - xoa bóp như trên
  • Phần b - nằm ngửa, làm giãn nở cơ thể là chính cho đến khi hết cơn đau tiếp tục làm thêm 10 phút để củng cố, thở tự nhiên.
  • Phần c - xoa bụng nằm nghỉ

Cơn đau dạ dày ở cường độ mạnh
Cần dùng các phương pháp khác để cắt cơn đau, nếu người có bệnh đủ nghị lực, có thể làm như sau:

  • Phần a - dùng ngón tai cái ấn vào điểm đau ở bụng, nếu thấy dễ chịu tiếp tục ấn đến khi giảm đau .
  • Nếu ấn mà đau tăng thì không ấn nữa.
  • Tăng cường xoa bụng
  • Phần c - cố nằm ngửa, chân duỗi thẳng.
  • Làm giãn cơ thể là chính như ở phần trên, thở tự nhiên.

Khi có chảy máu dạ dày: cần có sự can thiệp bên ngoài, cần tuyệt đối yên tĩnh.
Chỉ luyện ở thế tĩnh: nằm, làm giãn cơ thể và tinh thần đi vào yên tĩnh, thở tự nhiên.
Thủng dạ dày: can thiệp bằng phẫu thuật
Có thể dùng khí công để phối hợp với chuẩn bị phẫu thuật. Sau khi mổ rồi bước đầu luyện ở tư thế tĩnh, làm cơ thể dãn và tinh thần đi vào yên tĩnh, thở tự nhiên. Sau đó tiến dần sang thở sâu kiểu bụng, khi đã cắt chỉ, tăng cường xoa bụng.
Khi đã ra viện tiếp tục tập như người khỏe.
5. Luyện khí công ở người huyết áp cao .

  • Phần a - Như người khỏe, nếu đau đầu, thêm động tác vỗ trán, miết trán.
  • Phần b - ngồi hoặc đứng, làm cơ thể giãn rồi điều chỉnh hơi thở. Lấy việc điều chỉnh hơi thở theo nhịp điệu êm, nhẹ, đều, chậm, sâu, dài làm chính.

Tập thở từ ít đến nhiều.
Mới đầu tập 10 hơi thở nghỉ một tí, tập lại - sau đó tăng dần.

  • Phần c - Như người khỏe.

6. Luyện khí công ở người hen:
Khi không lên cơn:

  • Phần a - Thêm xoa ngực, xoa sườn, vuốt ngực
  • Phần b - Làm giãn cơ thể, thở tự nhiên
  • Phần c - Thêm xoa ngực, xoa sườn, vuốt ngực

Khi bắt đầu lên cơn, hoặc sắp lên cơn:

  • Phần a - không làm
  • Phần b - Ngồi ở tư thế thoải mái nhất của lúc lên cơn, làm giãn cơ thể nhiều lần đến khi cơn hen bị khống chế, làm thêm 10 phút. Cũng có thể chú ý canh giữ vùng rốn, không chú ý đến hơi thở.

7. Luyện khi công ở người suy nhược thần kinh:
Tăng cường luyện ở thế động:

  • Phần a - Nếu đau đầu: vỗ đầu, miết trán, đau lưng; ù tai: xoa bóp màng nhĩ, xát chân vành tai, bật vành tai; mắt hoa: vuốt mắt, day đầu, đuôi mắt.
  • Phần b - Ngồi hoặc đứng làm giãn cơ thể, rồi chuyển chú ý canh giữ vùng rốn (nếu ngủ kém canh giữ huyệt Dũng truyền) thở tự nhiên.
  • Phần c - Như người khỏe. Nếu dễ cảm mạo: tăng cường động tác xát mặt, xát mũi, quay cổ.

8. Luyện khí công ở người sa dạ dày.

  • Phần a - và phần b như người khỏe (không dùng tư thế ngồi và đứng).
  • Phần c - thêm động tác nam ngửa giơ cao chân, nằm ngửa đi xe đạp; nằm ngửa, ngồi dậy.

Chúng ta có thể tùy tình hình bệnh tật mà sắp xếp các phần a, b, c cho thích hợp với người bệnh như là chọn các thứ thuốc để kê một đơn thuốc hoàn chỉnh vậy.
 
III. LƯU Ý KHI LUYỆN KHÍ CÔNG
1. Những nguyên tắc cần theo khi luyện khí công

  • Phải kết hợp chặt chẽ giữa vận động và yên tĩnh.
  • Phải kết hợp chật chẽ giữa ba mặt luyện tập: luyện tư thế, luyện thở và luyện ý.
  • Luyện tập với mức độ vừa đủ, không quá nhiều, không quá ít.
  • Kiên trì luyện tập.

2. Đánh giá kết quả luyện khí công như thế nào?

  • Đánh giá sự tiến bộ trong luyện bằng cách so sánh trước khi tập khí công và qua một thời gian tập khí công các mặt luyện tư thế (động tác) luyện thở, luyện ý có tiến bộ không.
  • Đánh giá tác dụng của luyện tập đối với bản thân bằng cách so sánh trước khi tập khí công và qua một thời gian tập khí công các mặt ăn, ngủ, đại tiểu tiện, tinh thần, triệu chứng bệnh, tình trạng bệnh.
  • Trong một lần luyện tập có thể căn cứ vào đầu óc nhẹ nhàng, thoải mái, người có khỏe khoắn, có cắt được cơn bệnh không v. v... để đánh giá kết quả mỗi lần luyện tập.

Muốn luyện tập tốt phải làm gì ?

  • Muốn luyện tập tốt phải chuẩn bị cho chu đáo, thực hiện đúng các yêu cầu của luyện tập. Muốn có quá trình luyện tập tốt phải tin tưởng, kiên trì luyện tập và có sự hướng dẫn của chuyên môn.

3. Chế độ sinh hoạt, ăn uống khi luyện khí công

  • Sinh hoạt: điều độ, có giờ giấc, tiết dục, không có cái gì quá độ, theo hướng dẫn của thầy thuốc, giữ gìn vệ sinh cá nhân.
  • Ăn uống: điều độ, nhai kỹ, vệ sinh. Tránh uống nước chè đặc, hút thuốc, uống rượu quá nhiều và không đúng lúc.

4. Chỉ định và chống chỉ định

  • Chỉ định: dùng cho người khỏe để giữ sức khỏe; người có bệnh mãn tính đề phòng bệnh, chữa bệnh và giữ sức khóe
  • Chống chỉ định: không dùng cho người tinh thần không tỉnh táo.
  • Với bệnh cấp tính lên dùng các phương pháp điều trị đặc biệt, có thể kết hợp dùng khí công nếu biết làm

                                                                                                                                                          Y HỌC BỔ SUNG